Tin tức
17
Tháng 10

Ban biên tập xin trích bài dự thi tìm hiểu "Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam" của đồng chí Trần Thị Dương, khoa Toán - Lý - Tin, Trường Đại học Tây Bắc

1. Đặt vấn đề

Khi nói về mối quan hệ nghĩa tình giữa hai Đảng, hai nước, hai dân tộc Việt Nam và Lào, Bác Hồ kính yêu của chúng ta - Người đã dày công vun đắp cho mối quan hệ Việt - Lào đã nhấn mạnh, đó là mối “quan hệ đặc biệt”. Và đúng như vậy, để nói cho hết về mối “quan hệ đặc biệt” ấy cần phải ngược dòng lịch sử, để lịch sử chứng minh cái nghĩa, cái tình và tấm lòng thủy chung, son sắt, sát cánh bên nhau của hai Đảng, hai dân tộc Việt - Lào trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, giành độc lập cho dân tộc và cùng nhau xây dựng hòa bình, hướng tới tương lai hạnh phúc. Đối với nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, quan hệ đặc biệt được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm đến chừng nào cũng không thể chia tách được. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Việt - Lào hai nước chúng ta, Tình sâu như nước Hồng Hà, Cửu Long”.

Nền tảng của quan hệ Việt - Lào xuất phát từ quan hệ truyền thống lâu đời giữa hai nước láng giềng gần gũi, cùng chung sống trên bán đảo Đông Dương. Mối quan hệ truyền thống ấy trở nên “đặc biệt” từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào) trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng của hai dân tộc Việt Nam và Lào, cùng sát cánh bên nhau chiến đấu chống kẻ thù chung, xây đắp nên tình đoàn kết keo sơn, thuỷ chung, son sắt Việt - Lào.

Qua tiếp thu tìm hiểu: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào -Việt Nam.  Bản thân tôi thấy tâm đắc với chủ đề 1:  Những cơ sở tạo nên việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam (5.9.1962). Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại gia của hai nước.

Quan hệ Việt Nam - Lào hay còn được biết đến với tên thông dụng là Quan hệ hữu nghị Việt - Lào là mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện từ lịch sử tới hiện tại giữa Việt Nam và Lào.  Bản chất của quan hệ đặc biệt đó bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; tình đoàn kết thủy chung và niềm tin về lòng chân thành, trong sáng mà hai dân tộc Việt Nam, Lào dành cho nhau; sự giúp đỡ đến mức cao nhất nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển tương lai của hai dân tộc.

Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam không giống bất cứ mối quan hệ nào trong lịch sử thế giới đương đại, được xây đắp, nuôi dưỡng bằng công sức, của cải, xương máu của nhiều thế hệ cách mạng người Việt Nam và Lào. Trải qua rất nhiều gian nan, thử thách khắc nghiệt, quan hệ đó vẫn vẹn nguyên, không hề bị rạn nứt và phá vỡ cho dù các thế lực thù địch dùng nhiều thủ đoạn chống phá, chia rẽ.

vn-lao-01

Ảnh: Thủ tướng chính phủ nước CHDCND Lào và Việt Nam ký hiệp ước hữu nghị, hợp tác ngày 18/7/1977

Tính đặc biệt của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam được tạo dựng trên nền tảng quan điểm, nguyên tắc, phương pháp và cơ chế phù hợp với điều kiện cụ thể của hai dân tộc Việt Nam - Lào.

2.    Các yếu tố hình thành và phát triển mối quan hệ Việt - Lào

Hai nước Việt Nam - Lào có lịch sử gắn bó rất lâu đời với nhau trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc. Trong chiều dài lịch sử ấy, nhân dân hai nước đã “chung lưng đấu cật” để xây dựng mỗi nước phát triển. Là hai nước láng giềng có nhiều nét tương đồng về văn hóa, cũng như  điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội….

a. Về các điều kiện tự nhiên

Việt Nam và Lào nằm ở trung tâm bán đảo Ấn-Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa. Trong phạm vi của bán đảo Đông Dương, Việt Nam nằm ở phía đông dãy Trường Sơn, như một bao lớn nhìn ra biển; Lào nằm ở sườn Tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào vùng đất liền của bán đảo. Như vậy, dãy Trường Sơn có thể ví như cột sống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt Nam và Lào. Với địa hình tự nhiên này, về đường bộ cả Việt Nam và Lào đều theo trục Bắc - Nam. Còn về đường biển, con đường gần nhất để Lào có thể thông thương ra biển đó là từ Sầm Nưa thuộc tỉnh Hủa Phăn (Lào) qua Thanh Hoá; Xiêng khoảng (Lào) qua Nghệ An; Khăm Muộn (Lào) qua Hà Tĩnh; Savẳnnakhệt (Lào) qua Quảng Trị và Khăm Muộn (Lào) qua Quảng Bình.

Do điều kiện tự nhiên nên sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và Lào có nhiều điểm tương đồng, lại vừa có những nét khác biệt. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, để hợp tác cùng phát triển hai nước hoàn toàn có thể bổ sung cho nhau bằng tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước về vị trí địa lý, tài nguyên, nguồn nhân lực, thị trường cũng như sự phân vùng kinh tế và phân công lao động hợp lý. Ngoài ra, Việt Nam và Lào là những thuộc nước“vừa” và “tương đối nhỏ” sống cạnh nhau, lại nằm kề con đường giao thông hàng hải hàng đầu thế giới, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương cho nên chiếm vị trí địa- chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á.

vn-lao-02Ảnh: Bản đồ Vệt Nam và Lào

b. Về quốc phòng:

Bờ biển Việt Nam tương đối dài, nên việc bố trí chiến lược gặp không ít khó khăn. Trong khi đó, dãy Trường Sơn, biên giới tự nhiên giữa Việt Nam và Lào được ví như bức tường thành hiểm yếu, để hai nước tựa lưng vào nhau, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau tạo ra thế chiến lược khống chế những địa bàn then chốt về kinh tế và quốc phòng, trở thành điểm tựa vững chắc cho Việt Nam và Lào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

c. Về các nhân tố dân cư, xã hội:

Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia của hai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người ở khu vực Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng. Đặc điểm này, đến nay vẫn tiếp tục chi phối mạnh mẽ các mối quan hệ khác trên đường biên giới quốc gia Việt Nam-Lào. Chính quá trình cộng cư, hoặc sinh sống xen cài của những cư dân Việt Nam và cư dân Lào trên địa bàn biên giới của hai nước đã dẫn đến việc cùng khai thác và chia sẻ nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nguồn lợi sinh thuỷ. Điều này, thêm một lần nữa khẳng định các quan hệ cội nguồn và quan hệ tiếp xúc chính là những điều kiện lịch sử và xã hội đầu tiên, tạo ra những mối dây liên hệ và sự giao thoa văn hoá nhiều tầng nấc giữa cư dân hai nước. Một trong những minh chứng cho nhận định trên đó chính là hai câu chuyện huyền thoại của hai dân tộc đều xoay quanh môtíp quả bầu mẹ, đó là: người Lào, thông qua câu chuyện huyền thoại đã cho rằng các nhóm dân cư: Lào, Thái, Khơmú, Việt đều có chung nguồn gốc. Đặc biệt, trong câu chuyện này, Khún Bulôm đã dặn dò với các con cháu của Người: “Các con phải luôn luôn giữ tình thân ái với nhau, không bao giờ được chia rẽ nhau. Các con phải làm cho mọi người noi gương các con và coi nhau như anh em một nhà, người giàu phải giúp đỡ kẻ nghèo, người mạnh giúp kẻ yếu. Các con phải bàn bạc kỹ trước khi hành động và đừng bao giờ gây hấn xâm lăng lẫn nhau”.  Còn ở miền tây Quảng Bình và Quảng Trị của Việt Nam, người B’ru cũng giải thích nguồn cội của các dân tộc Tà Ôi, Ê đê, Xơ đăng, Bana, Khùa, Sách, Mông, Dao, Tày, Khơme, Lào, Thái, Việt...cũng từ quả bầu mẹ. Hình tượng quả bầu mẹ đã trở thành biểu tượng cao đẹp, lý giải nguồn gốc và tình đoàn kết keo sơn giữa các dân tộc hai bên dãy Trường Sơn.

- Về nhân tố văn hoá và lịch sử: Về nhân tố văn hoá, điều cần phải khẳng định là do quan hệ gần gũi và lâu đời nên người Việt và người Lào đặc biệt là người dân ở vùng biên giới am hiểu về nhau khá tường tận. Trong cuốn “Dư địa chí”  của Nguyễn Trãi đã mô tả khá ấn tượng về nền văn hoá độc đáo và phong tục thuần phác của dân tộc Lào, cũng như hiện tượng giao thoa văn hoá nở rộ giữa Đại Việt với các nước láng giềng Đông Nam Á, trong đó có Lào Lạn Xạng.

Sự giao thương của người dân Lào với người dân Việt nhất là với người dân các tỉnh biên giới của Việt Nam cũng khá nhộn nhịp. Người dân Việt Nam bày tỏ mối thiện cảm với một số mặt hàng có chất lượng cao của Lào như: vải dệt, chiêng...Chính vì vậy, mà hiện nay, nhiều dân tộc ít người ở Tây Nguyên của nước ta vẫn còn giữ được những chiếc chiêng Lào nổi tiếng. Đúng như nhà bác học Lê Quý Đôn nhận xét: "Thật là một nước đã giàu lại khéo”. Điều đáng chú ý là trong quan hệ giao thương với Đại Việt, Lào Lạn Xạng đã không ít lần bộc lộ mối quan tâm của mình muốn hướng ra biển, trong khi Đại Việt lại tìm cơ hội để mở rộng buôn bán vào sâu lục địa.          

Mặc dầu Việt Nam và Lào có tiếng nói, văn tự không giống nhau, sáng tạo và lựa chọn các nền văn hóa cũng như các hình thức tổ chức chính trị - xã hội khác nhau, nhưng những nét tương đồng thì vẫn thấy phổ biến trong muôn mặt đời sống hàng ngày của cư dân Việt Nam và Lào. Các nền văn hóa nghệ thuật truyền thống của Việt Nam và Lào dễ dàng tìm thấy: sự đồng cảm lẫn nhau, chia sẻ các giá trị cộng đồng, coi trọng luật tục, tôn kính người già… Sự tương đồng giữa văn hóa làng - nước của người Việt và văn hóa bản - mường của người Lào xuất phát từ cội nguồn cùng nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam Á. Đồng thời, lòng nhân ái bao la và đời sống tâm linh phong phú, trong đó có những ảnh hưởng sâu đậm của đạo Phật mà trong cách đối nhân xử thế của mình, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào bao giờ cũng nêu cao những phẩm chất yêu thương và hướng thiện.

d. Bối cảnh lịch sử

 Về nhân tố lịch sử: Theo các thư tịch cổ nổi tiếng của Việt Nam như: “Việt điện u linh” “Lịch triều hiến chương loại chí” thì năm 550 dưới thời Vạn Xuân của nhà tiền Lý, khi bị quân Lương ở phương Bắc đàn áp, Lý Nam Đế buộc phải lánh nạn và anh ruột của Vua là Lý Thiên Bảo đã chạy sang đất Lào lập căn cứ  chống giặc ngoại xâm, mở ra mối quan hệ đầu tiên Việt Nam-Lào, Lào-Việt -Nam. Còn hai bộ chính sử khác là “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” thì sự kiện quan hệ ngoại giao, thông hiếu đầu tiên giữa các nước Đại Việt và Lào là vào năm 1067. Tiếp đến vào giữa thế kỷ XIV (năm 1353) những quy ước hoà bình đầu tiên về biên giới quốc gia đã được xác lập giữa Đại Việt và Lạn Xạng khi Chạu Phạ Ngừng lần lượt chinh phục các mường Lào, lập nên vương quốc Lạn Xạng thống nhất đầu tiên của người Lào. Ngoài ra, trong suốt quá trình của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427), nghĩa quân Lê Lợi cũng luôn nhận được sự tiếp sức của các tộc trưởng và nhân dân Lào ở vùng biên giới.

Từ thế kỷ XIV đến XV, hai nước Đại Việt- Lạn Xạng, Lạn Xạng - Đại Việt mặc dù không phải không có những thời khắc gặp nguy nan nhưng với tinh thần lấy hoà hiếu làm trọng nên đã sáng suốt và công bằng, có ý thức đề cao không thù hận, đồng thời biết chủ động vun đắp tình thân ái và hữu nghị lâu dài giữa hai dân tộc.

Đến thế kỷ XVII là thời kỳ toàn thịnh của Lạn Xạng dưới Vương triều Xulinhavôngsả (1637-1694), nhà vua Lào đích thân cầu hôn công chúa Vua Lê Duy Kỳ. Tuy nhiên, đây cũng là lúc chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng nên quan hệ giữa hai vương triều hậu Lê và Lạn Xạng không phát triển được nhiều. Cuối thế kỷ XVII, nội bộ hoàng tộc Lào rối ren. Tuy nhiên bất chấp hoàn cảnh bất lợi của chế độ phong kiến ở Đại Việt và Lạn Xạng, quan hệ nương tựa vào nhau giữa nhân dân hai nước vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng. Chính vì vậy, nửa cuối thế kỷ XVIII, khu vực Mương Phuôn (Xiêng Khoảng) đã trở thành một căn cứ đề kháng quan trọng của nghĩa quân Tây Sơn chống lại thế lực Nguyễn Ánh. Thế kỷ XIX, quan hệ Việt Nam-Lào, Lào -Việt Nam đã có bước trưởng thành sâu hơn, nhất là về phương diện nhận thức chủ quyền quốc gia, quan điểm bạn thù cũng như phương cách xây dựng đồng minh giữa nhân dân hai nước. Đó là những yếu tố lịch sử.

Cùng với các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội, văn hoá và lịch sử và sự tự nguyện phối hợp của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào trong chống ngoại xâm nhất là trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ  xâm lược càng khẳng định mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

Từ đầu thế kỷ 20, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Lào-Việt Nam đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp. Như vậy, trước 1930, hai dân tộc Lào-Việt đã đoàn kết cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, nhưng lúc đó chỉ dừng lại ở tính chất tự phát do hạn chế về trình độ nhận thức và điều kiện lịch sử. Từ khi có chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào-Việt Nam tình đoàn kết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục. Chính truyền thống yêu nước vẻ vang là cơ sở vững chắc cho sự đoàn kết giữa hai dân tộc.

vn-lao-03

Ảnh: Chuyên gia quân sự Việt Nam huấn luyện kĩ thuật sử dụng pháo 12 nòng cho nữ pháo binh của bộ đội Phathet (Lào) chống Mỹ năm 1972

 Tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào trong những năm tháng chiến tranh mà biểu hiện của nó là nhân dân Lào cùng Việt kiều đấu tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn (1930-1939), tiếp đến giúp nhau tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền thắng lợi (1939 - 1945) và liên minh Việt-Lào, Lào-Việt Nam chiến đấu chống thực dân Pháp và đế  quốc Mỹ xâm lược (1945 – 1975). Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang hoàn toàn mới: từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền. Tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào được biểu hiện sâu nặng trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

vn-lao-04

Ảnh: Bộ đội tình nguyện Việt nam chia tay các bạn Lào trước lúc trở về nước năm 1961

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng  vững chắc cho quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào -Việt Nam và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam.

vn-lao-05

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản tại Hà Nội ngày 07/07/1966tại Hà Nội ngày 07/07/1996 tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cay xỏn - Phôm vi hản, tại Hà Nội ngày

Thực tiễn đã khẳng định rằng, trong quan hệ quốc tế ít có nơi nào và lúc nào cũng có được mối quan hệ đặc biệt, đoàn kết, hợp tác bền vững lâu dài, trong sáng như mối quan hệ Việt - Lào.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt giữa Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam cùng với những cơ hội vẫn còn không ít thách thức, nhất là các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo lịch sử, chia rẽ tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào. Vì vậy, việc duy trì, củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt trong sáng, thuỷ chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Đảng, chính quyền và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

3. Ý nghĩa của việc thiết lập ngoại giao Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
- Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm vóc lịch sử to lớn trong quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam.

- Góp phần tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa hai dân tộc anh em tiến lên một tầm cao mới. Nhờ đó, đã giải quyết được những khó khăn, thử thách mới với nhiều diễn biến phức tạp do sự can thiệp ngày càng sâu của Mỹ vào các nước Đông Dương.

- Khẳng định đường lối nhất quán, đúng đắn trong mối quan hệ chiến lược của hai Đảng và nhân dân hai nước; đảm bảo sự thống nhất về đường lối chính trị, quân sự, để hai dân tộc tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra.

- Là cơ sở vững chắc để quân dân hai nước tiếp tục sát cánh bên nhau chiến đấu và giành nhiều thắng lợi mới trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai, giành độc lập tự do cho mỗi nước.

4. Vai trò của Trường Đại học Tây Bắc trong việc góp phần xây dựng, tăng cường, củng cố mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong các thời kỳ xây dựng và phát triển nhà trường

a. Vai trò của Trường Đại học Tây Bắc

Cùng với sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam thì Hợp tác Giáo dục và Đào tạo là một trong những trọng tâm ưu tiên trong đường lối, chính sách và trong chỉ đạo của Lãnh đạo cấp cao cả 2 nước. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo; nâng cao chất lượng hợp tác Giáo dục và Đào tạo giữa 2 nước đã trở thành nhiệm vụ hàng đầu, mối quan tâm hàng đầu. Lĩnh vực này cũng được đánh giá là hợp tác thành công nhất, đã tạo nguồn nhân lực rất quan trọng cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Lào. Đảng và Nhà nước Lào đánh giá rất cao sự giúp đỡ từ phía Việt Nam.

Tại trường Đại học Tây Bắc, năm học 2016-2017, nhà trường tiếp nhận mới 162 lưu học sinh Lào, nâng tổng số lưu học sinh đang theo học tại trường lên 471 học sinh, trong đó có 381 em học các lớp chuyên ngành và 95 em học lớp dự bị tiếng Việt. Các lưu học sinh đang theo học 25 ngành đào tạo, trong đó, 21 ngành đào tạo đại học, 4 ngành đào tạo sau đại học. Khi các em mới sang Việt Nam học tập thì hoàn toàn bất đồng về ngôn ngữ, xa lạ với môi trường học tập cũng như môi trường sống, vì thế các em rất rụt rè, ngại giao tiếp…. Xác định rõ trách nhiệm quốc tế cao cả, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và sinh viên nhà trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các em học tập trong điều kiện tốt nhất. Các thầy cô trực tiếp giảng dạy luôn gần gũi với các em để các em có thể yên tâm học tập tiếng Việt cũng như các môn chuyên ngành, giúp các em hòa mình vào các hoạt động của Trường, khoa, lớp.

vn-lao-06

Ảnh: Giờ học tiếng Việt của Lưu HS Lào tại trường ĐH Tây Bắc

Đây cũng là năm thứ hai trường Đại học Tây Bắc nhận nhiệm vụ giảng dạy Tiếng Việt cho lưu học sinh Lào. Quá trình giảng dạy nhà trường cũng gặp những khó khăn như kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, tài liệu giáo trình còn thiếu và cũng bất đồng về ngôn ngữ. Nhưng với tinh thần trách nhiệm cao, tình thương yêu học sinh, các giáo viên ở đây luôn cố gắng tự trau dồi kiến thức chuyên môn bổ trợ, tìm tòi những phương pháp, tìm tòi thêm tài liệu để giảng dạy Tiếng Việt cho các em đạt được hiệu quả cao nhất; Đồng thời cũng phải tự học Tiếng Lào để giảm bớt khó khăn về bất đồng ngôn ngữ giữa thầy và trò nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng chuyên môn.

Không chỉ được giúp đỡ để có điều kiện học tập tốt nhất, các lưu học sinh Lào còn luôn được các thầy cô giáo, các bạn sinh viên Việt Nam quan tâm, chia sẻ, tháo gỡ cả những vướng mắc về tâm tư, những khó khăn về đời sống vật chất cũng như là sinh hoạtđã giúp các lưu học sinh Lào yên tâm học tập và gắn bó với trường lớp, cống hiến cho sự nghiệp phát triển của đất nước Lào tươi đẹp từ đó đã ngày càng thắt chặt hơn tình cảm gắn bó giữa hai nước Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam.

b. Thành tích nổi bật của Lưu Học Sinh Lào tại Khoa Toán - Lý - Tin Trường Đại học Tây Bắc

LHS Lào đã tích cực tham gia hầu hết các hoạt động của tuổi trẻ Nhà trường do Đoàn thanh niên, Hội sinh viên trường tổ chức: thực hiện đồng phục khi đến trường, tham gia các cuộc thi tìm hiểu, các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, các hội thi như “tiếng hát Sinh viên”, “hội thao cấp Khoa, cấp trường”…. Tổ chức nhiều hoạt động chào mừng các ngày lễ theo truyền thống của dân tộc như Tết Bun Pimay, ngày Quốc khánh 2/12…Trong các hoạt động đó, LHS Lào luôn đem lại những màu sắc riêng, thể hiện nét độc đáo trong văn hoá của nhân dân các bộ tộc Lào, mặt khác cũng khẳng định tình hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc, hai đất nước.

Thông qua chương trình tình nguyện “Bạn giúp Bạn” giúp đỡ LHS, với sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ của sinh viên Việt Nam nên phần lớn LHS đã vượt qua những khó khăn ban đầu, đạt nhiều thành tích trong học tập và rèn luyện. Nhiều LHS đã không ngừng phấn đấu và đạt nhiều thành tích xuất sắc như tại Kỳ thi Olympic Toán sinh viên toàn quốc năm 2016 và 2017. Sinh viênDênh Chăn Thạ Pha Văn (Lưu HS Lào), thí sinh người nước ngoài duy nhất trong lịch sử kì thi cho tới nay đã xuất sắc giành giải Nhì môn Giải tích năm 2016 và giải Khuyến khích môn Giải tích năm 2017.

Năm 2017 tại kì thi vô địch tin học văn phòng toàn quốc tại Hà Nội có 03 SV đạt trên 800 điểm và được cấp chứng chỉ trong đó có em Hong Sả Khon Sí Mương May (Lưu HS Lào)  - Sinh viên K55 ĐHCNTT đạt trên 900 điểm.

Ngoài ra trong Khoa còn nhiều Lưu HS Lào khác đạt kết quả học tập giỏi xếp loại rèn luyện tốt trở lên như: A Lỵ Sá Xay Nhạ Thum Ma - K55 ĐHSP Tin, Sổm Kẹo Xay Nhạ  Vông -  K55 ĐHSP Toán……

Có được kết quả đó  là sự  nỗ lực phấn đấu của bản thân các em những cũng phải kể đến sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các thầy cô trong Ban chủ nhiệm Khoa, các đồng chí giảng viên, cố vấn học tập tận tụy trong công việc. Sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo nhà trường. Hi vọng trong thời gian tới các em Lưu học sinh Lào sẽ đóng góp nhiều thành tích hơn nữa trên tất cả các lĩnh vực.

vn-lao-07

vn-lao-08

Ảnh: Đội thi Khoa Toán Trường Đại học Tây Bắc tại kì thi năm 2016 và 2017

vn-lao-09

Ảnh: Bạn Hong Sả Khon Sí Mương May - sinh viên K55 ĐHCNTT (thứ 2 từ trái sang) cùng đoàn tham dự Tin học văn phòng năm 2017

vn-lao-10

Ảnh: Giờ thực hành Tin học của Lưu học sinh Lào

c. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục, đào tạo lưu học sinh Lào của đơn vị, của Nhà trường như sau:

- Nên xây dựng chương trình dự bị đại học cho lưu học sinh Lào trước khi vào học chính thức nhằm bổ trợ thêm các kiến thức phổ thông căn bản cần thiết cho việc học ở đại học mà lưu học sinh Lào còn thiếu hụt so với chương trình giáo dục phổ thông tại Việt Nam. 

- Cần tăng thời gian học tiếng Việt, trong đó chú trọng trang bị tiếng Việt chuyên ngành cho lưu học sinh Lào nhằm đáp ứng được yêu cầu đào tạo bậc Đại học.

- Tổ chức các hoạt động học tập, giao lưu văn hóa, xemina giới thiệu về văn hóa của hai nước để các em lưu học sinh Lào mở rộng vốn từ Tiếng Việt của mình và hòa nhập nhanh hơn.

- Phát huy tối đa hình thức hỗ trợ học tập một sinh viên Việt Nam giúp đỡ một lưu học sinh Lào.

- Lưu học sinh Lào nên ghi âm các bài giảng trên lớp để nghe lại những nội dung chưa kịp ghi chép, chưa kịp hiểu, qua đó giúp các em hiểu bài tốt hơn.

- Giảng viên, cố vấn học tập, Đoàn Thanh niên… phải thường xuyên chủ động quan tâm, yêu cầu và khuyến khích lưu học sinh Lào bộc lộ khả năng của mình, mạnh dạn đặt câu hỏi hoặc nói ra những chỗ không hiểu của mình trong bài học để giảng viên, bạn học trợ giúp.

Trong thời gian tới, Trường Đại Học Tây Bắc tiếp tục hợp tác đào tạo Lưu Học Sinh Lào, phấn đấu nâng cao chất lượng liên kết đào tạo. Góp sức thắt chặt mối quan hệ Thủy chung: Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

Trần Thị Dương

Share
2
3
Metro-Windows-8
Windows-8-Simple-Background